TRẬN CHIẾN MẬU THÂN TẠI HUẾ TỪ GÓC NHÌN CỦA NGƯỜI CHỈ HUY CHIẾN TRƯỜNG BẮC QUÂN

Nguyễn Ngọc Bích

Bốn mươi năm trước đây, Cộng Sản Việt Nam, trong cố gắng đảo ngược thế cuộc chiến tranh vì các thất bại liên tiếp của họ vào hai năm 1966 – 1967, đã phát động cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân từ tháng giêng đến tháng hai năm 1968.[2] Cuộc Tổng Tấn Công này trở thành một đại thảm họa về quân sự cho phía Cộng Sản. Chính Cộng Sản Việt Nam đã thú nhận là họ thất bại nặng nề, với 48.000 tổn thất nhân sự (41.000 tử vong, 7.000 lính bị bắt làm tù binh, chưa kể thương binh) trên tổng số 84.000 quân trong lực lượng tấn công. Cộng Sản Việt Nam đã phải tốn ít nhất là 3 năm (theo Trần Văn Trà), đến 5 năm (theo Bùi Tín), để tái xây dựng lực lượng.[3] Trên thực tế, hậu quả của cuộc tấn công 1968, nếu tính cả trận đầu cùng với hai lần tấn công theo sau, vào tháng 05/1968 và tháng 08/1968, thì sẽ cho người ta thấy rõ điều này: Cuộc chiến năm 1968 đã tiêu diệt một cách hữu hiệu hầu như toàn bộ bộ máy chiến tranh của họ tại miền Nam Việt Nam.[4]

Chiến địa duy nhất mà Cộng Sản Việt Nam cầm cự được hơn vài ngày là tại Huế, cố đô của Việt Nam, nơi quân Việt Cộng tử thủ đến 25 ngày[5] nhờ vào sự kiên cố của các bức tường cổ thành. Walter Cronkite, phóng viên Hoa Kỳ, khi thăm Huế trong giai đoạn này đã gọi cuộc chiến là “không thể thắng được.”[6] Tổng Thống Lyndon B. Johnson của Hoa Kỳ lúc bấy giờ than: “Nếu tôi mất [sự ủng hộ] Cronkite rồi thì cũng coi như tôi mất sự ủng hộ của người dân bình thường tại Hoa Kỳ.”[7] Đến tháng ba 1968, Johnson quyết định không tái tranh cử Tổng Thống cho nhiệm kỳ hai; thay vào đó, ông ra lệnh ngưng oanh tạc Bắc Việt, một điều đưa đến sự sửa soạn cho “Hòa đàm” Paris.

Có thể nói rằng sự thảm bại quân sự khổng lồ nhất của Việt Cộng trong suốt cuộc chiến, bỗng nhiên dẫn đến bước ngoặt quan trọng nhất trong chiến tranh VN có lợi cho Cộng Sản Bắc Việt. Sau Tết 1968, cục diện chiến tranh Việt Nam thay đổi hoàn toàn: nếu trước đó, huyền thoại về một chiến tranh du kích do người dân miền Nam bị áp bức nổi lên vẫn còn được thêu dệt dù khó tin, sau Tết, vì quân của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam hầu như đã không còn nữa, Hà Nội trắng trợn chường ra bộ mặt của một kẻ xâm lăng, vi phạm Hiệp Định Genève năm 1954, hiệp định phân chia Việt Nam ra thành hai miền Nam Bắc rõ ràng trong khi chờ đợi một giải pháp chính trị (mà lúc đầu được quan niệm là sẽ thống nhất bằng một cuộc Tổng Tuyển Cử).[8]

Một Năm Bản Lề


Các sử gia tương lai sẽ ghi nhận rằng năm 1968 là một năm bản lề trong chiến tranh Việt Nam. Và trong năm đó trận chiến tại Huế[9] sẽ nổi bật lên như là chiến trường đóng góp vào cái nhìn sai lạc mà lại được truyền bá cùng khắp thế giới, nhờ vào các hãng truyền thông của Hoa Kỳ.[10] Sự truyền thông sai lạc này đã thuyết phục được những con diều hâu như Bộ Trưởng Quốc Phòng Clark Clifford trở thành những con chim bồ câu ngây thơ,[11] và cuối cùng đã thúc đẩy Tổng Thống Johnson đi vào con đường bất khả đảo ngược dẫn đến sự triệt thoái[12] và, cuối cùng là thất bại trên chiến trường Việt Nam.

Điều đáng ngạc nhiên nhất, là tuy quan trọng như vậy, nhưng trận chiến tại Huế chỉ được nhắc sơ qua trong các sách sử tiêu chuẩn về chiến tranh Việt Nam. Duyệt qua các sách giáo khoa về cuộc chiến, người ta sẽ giật mình thấy một lỗ hổng lớn lao giữa tầm quan trọng của trận quyết định này trong chiến tranh Việt Nam và sự xem thường cuộc chiến tại Huế trong các sách giáo khoa như: Huế 1968 không được nhắc đến trong tác phẩm của Tướng Bruce Palmer, Jr., The 25 Year War: America’s Military Role in Vietnam (1984). Huế 1968 chỉ chiếm 1 dòng trong sách của Tướng Phillip B. Davidson, Vietnam at War (trang 475).[13] Huế 1968 được nửa đoạn trong sách của Robert D. Schulzinger, A Time for War: The United States and Vietnam, 1941-1975 (trang 259),[14] Huế 1968 được một đoạn trong sách của William S. Turley, cuốn The Second Indochina War được mô tả là một cuốn “Lược sử chính trị và quân sự, 1954-1975” (trang 109),[15]

một đoạn và 4 dòng trong sách của George C. Herring, America’s Longest War (trang 186-187),[16] và một đoạn rưỡi trong sách của Neil Sheehan về “John Paul Vann và Hoa Kỳ ở Việt Nam,” có tựa đề là A Bright Shining Lie (trang 719-720).[17] Trong sách của Michael McClear, Vietnam, A Complete Photographic History, một đại tác phẩm dày 736 trang với trên 2.000 hình ảnh và bản đồ với những phụ đề chữ nhỏ li ti, đã không hề có một đề mục nào cho trận Mậu Thân tại Huế, trừ một chương với tiêu đề “Tìm hiểu về Tết” có nhắc đến trận này (để chỉ trích các thông tin sai lạc của đồng minh) trong ba đoạn rưỡi.[18] Chỉ có một vài cuốn là dành cho Huế một ít chú tâm, nhưng ngay cả trong những sách như của A. J. Languth, Our Vietnam, câu chuyện cũng thiên về cuộc thảm sát tại Huế nhiều hơn là tự thân cuộc chiến (trang 475-478).[19] Ngoại lệ duy nhất có lẽ là sách của Dave R. Palmer, Summons of the Trumpet, khi trận Huế được trân trọng dành cho tới hai trang (trang 192-193) nhưng lại đầy dẫy những thông tin sai lạc. Điều lạ hơn nữa, là ngay trong các sách Việt Nam, kể cả sách giáo khoa, trận chiến tại Huế cũng bị quên lãng. Thí dụ như, trong tập Lịch Sử Việt Nam, 1945-1975 (Trần Thục Nga và người khác, Lịch Sử Việt Nam, 1945-1975, Nhà xb Giáo Dục, 1987),[20] sách giáo khoa được Đảng CSVN chuẩn nhận trong chương trình dành cho các thầy cô theo ngành sư phạm hiện nay tại Việt Nam, trận chiến tại Huế được nhắc đến trong hai đoạn văn (trang 145), mà đoạn sau không hơn không kém là một đoạn tuyên truyền. Về phía Quân Lực VNCH và người Việt hải ngoại, cuộc chiến tại Huế cũng chỉ nhận được nhiều lắm là vài trang (chính xác là 3 trang, 403-405, trong Chiến tranh Việt Nam toàn tập, [21] tác phẩm được xem là đầy đủ nhất về lịch sử cuộc chiến, của Nguyễn Đức Phương. Nếu đem so sánh với sự quan tâm to lớn dành cho vụ Thảm Sát tại Huế thì phải nói là ta sẽ không thể nào hiểu được vụ thảm sát kia nếu ta không hiểu trận Huế diễn ra như thế nào. Một ngoại lệ có thể tìm thấy trong tập Huế, Xưa và Nay (Hue, Past and Present – Vietnamese Studies Số 37) do Hà Nội xuất bản ngay sau Tết 1968, trong đó có đăng bài của Tôn Vy về “Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân 1968 của Nhân Dân tại Quảng Trị - Thừa Thiên” kể lại trận chiến trong 14 trang nhỏ. Tiếc thay, loạt bài này không có bản đồ, không chỉ rõ đâu là quân Bắc Việt và Việt Cộng, đâu là quân Việt Nam Cộng Hòa, và thêm thắt khá nhiều chi tiết tưởng tượng. Như vậy, câu chuyện thực về cuộc chiến Mậu Thân 1968 tại Huế, theo góc nhìn của người Việt miền Nam, vẫn còn cần được kể lại một cách trung thực

Những đặc điểm của trận Huế vào Tết Mậu Thân 1968


Cuộc chiến tại Huế vào Tết 1968 không chỉ đặc biệt vì Việt Cộng đã cầm cự được đến 25 ngày trong khi tại các địa điểm khác trong cuộc tấn công, quân xâm lăng đã bị đẩy lui ngay trong vòng vài tiếng đồng hồ đầu tiên, và nhiều lắm là vài ngày (tại Sài Gòn – Chợ Lớn là 9 ngày).[22] Trận Huế năm 1968 đặc biệt là bởi vì, như tại Khe Sanh, quân tấn công là lực lượng chính quy Bắc Việt, những lính chuyên nghiệp dầy dạn chiến trường, được gửi vào từ Miền Bắc… Lý do chính là trước khi phát động cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân, Việt Cộng đã sắp xếp lại các ranh giới quân sự quanh Sài Gòn và Huế để tăng sự đột ngột và sự công phá đến mức tối đa.[23] Cuộc chiến tại mỗi đô thị được giao cho hai nhóm chỉ huy chiến trường. Tại Sài Gòn là Trần Văn Trà, Mai Chí Thọ, Lê Đức Anh - một người miền Nam kèm bởi hai tướng Bắc Việt - trách nhiệm việc tấn công từ phía Bắc thành phố. Võ Văn Kiệt và Trần Bạch Đằng chỉ huy việc tấn công từ phía Nam.[24] Trong trường hợp Huế, Trung tướng Trần Văn Quang là Chỉ huy trưởng quân khu Trị - Thiên – Huế, nhưng Đại Tá Lê Minh lại nhận được lệnh trước khi ra quân rằng: “Về chiến dịch, anh là chỉ huy trưởng, về mặt Đảng, anh là trưởng ban công kích và khởi nghĩa của toàn khu.”[25] Trên thực tế, cũng như trường hợp tại Sài Gòn, Lê Minh điều khiển vùng phía Bắc và Thân Trọng Một điều khiển sự tấn công từ phía Nam vào Huế. Mặc dầu vậy, Một nằm dưới quyền Minh, như chúng ta sẽ có dịp nhận xét sau này.

Trận chiến tại Huế năm 1968 đặc biệt vì nếu các cuộc tấn công vào Sài Gòn là sự tổng hợp lực lượng giữa Quân Giải phóng của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, như các đơn vị miền Nam dưới sự chỉ huy của Trần Văn Trà, Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng, và các đơn vị chính quy Bắc Việt dưới quyền Lê Đức Anh, Mai Chí Thọ, thì sự việc tại Huế đã hoàn toàn dính liền với danh dự của riêng Quân đội chính quy Bắc Việt mà thôi. Điểm này rất quan trọng khi chúng ta bàn đến câu hỏi ai là thủ phạm trong việc thảm sát tại Huế năm 1968.

Trận chiến tại Huế năm Mậu Thân cũng đặc biệt về thời điểm, vì sau Tết 1968, Hà Nội không còn cố gắng che dấu sự thực là những quân đoàn chính quy đông đảo, trong đó một số là đã từng tham gia trận Điện Biên Phủ, đã hiện diện tại miền Nam – biến đổi hoàn toàn tính chất “du kích chiến” (được cho là do sự nổi dậy của kháng chiến quân miền Nam) sang cuộc chiến quy ước có trang bị vũ khí quân cụ đầy đủ (bởi các lực lượng ngoại bang và từ phía Bắc vĩ tuyến 17 mang xuống). Sự kiện này trở nên trắng trợn hơn nữa khi Hà Nội tấn công miền Nam, vào Lễ Phục Sinh 1972, với toàn lực của Quân Đội Nhân Dân Miền Bắc, tất cả là những đoàn quân chính quy (với chỉ một sư đoàn để lại ở miền Bắc vào tháng 12/1972).[26] Hà Nội lại thảm bại trong trận chiến này, sau 56 ngày bao vây An Lộc thất bại (tháng 04-06/1972), và đặc biệt sau khi Thủy quân lục chiến Việt Nam Cộng Hòa tái chiếm Cổ thành Quảng Trị vào tháng 09/1972, chứng tỏ sự trưởng thành anh dũng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, 4 năm sau Tết 1968, khi trực chiến với Quân Đội Bắc Việt một khi có đầy đủ pháo binh và không quân yểm trợ.

Sau cùng, trận chiến tại Huế 1968 đặc biệt vì đó là chiến địa duy nhất mà Việt Cộng có đủ thời giờ để thành lập cả một “hội đồng nhân dân” gồm đa số là dân địa hương bị Bắc Việt giật dây. Những kẻ chủ chốt trong việc này là Hoàng Kim Loan,[27] và Hoàng Lanh,[28] hai tên nằm vùng ẩn náu trong nhà của Nguyễn Đóa, một Giám Thị tại trường Quốc Học. Hai ngày sau khi xâm nhập Huế, vào mồng 2 tháng 02, Đài phát thanh Hà Nội loan báo Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên - Huế được dựng lên với Giáo sư Đại Học Văn Khoa (ngành Dân tộc học) Lê Văn Hảo làm Chủ Tịch, và Bà Tuần Chi, một người trong ngành giáo dục, làm Phó.[29]

Mười hai ngày sau đó, 14 tháng 02, Đài phát thanh Hà Nội lại loan báo đã thành lập Ủy Ban Nhân Dân địa phương với Lê Văn Hảo làm Chủ Tịch, và hai phó là Đào Thị Xuân Yến (tên con gái của bà Tuần Chi) và Hoàng Phương Thảo.[30]

Trên thực tế, Việt Cộng đã vào Huế mang theo nhiều danh sách và địa chỉ do bọn nằm vùng cung cấp (như anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan, giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Đóa, và Bà Tuần Chi - vợ Nguyễn Đình Chi, học giả Nguyễn Đắc Xuân, v.v…)[31] và gần như lập tức đi lùng các người có tên trong danh sách

Trận thư hùng về quân sự[32]


Hướng dẫn bởi thành phần bất mãn do chính phủ VNCH đã dẹp cuộc khủng hoảng Phật Giáo miền Trung (1965-1967), Việt Cộng đã giữ được yếu tố bất ngờ khi họ tràn xuống từ vùng đồi núi phía Tây thành phố vào đêm 31 tháng 01, 1968. Họ đã kiểm soát được thành phố trong một thời gian tương đối ngắn (chưa đầy 24 giờ) ngoại trừ căn cứ của Đại đội 81 Quân Cụ, Đài Phát Thanh Huế, Phi trường Tây Lộc, và đặc biệt là Đồn Mang Cá, tổng hành dinh của Sư Đoàn 1 Bộ Binh dưới sự chỉ huy của Tướng Ngô Quang Trưởng.

Phần phụ lục đính kèm sẽ có chi tiết thời điểm rất rõ, nhưng ở đây chúng ta chỉ có thể tóm tắt trận chiến tại Huế như sau:

31/01/1968: Giữa đêm, bốn tiểu đoàn Bắc Việt dưới quyền Đại tá Lê Minh, hỗ trợ bởi một tiểu đoàn đặc công, tấn công Cổ Thành Huế từ phía Tây, Tây Bắc và chiếm một vùng lớn của thành phố, nhờ yếu tố bất ngờ. Bốn tiểu đoàn khác, cùng với tiểu đoàn đặc công thứ hai, dưới sự điều động của Thân Trọng Một, tấn công từ phía Nam. Toán đầu tiên gặp sự kháng cự tại sân bay Tây Lộc, trong khi nhóm thứ hai chạm trán với sự phòng thủ kiên cường của Đại Đội 81 Quân Cụ tại Tam Thai. Trong cùng thời gian, một tiểu đoàn Bắc Việt khác tiến vào An Hòa, phía Bắc của Huế nhằm chặn đường tiếp viện của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến từ Quảng Trị. Cuối cùng, một lực lượng khác gồm hai tiểu đoàn Bắc Việt đóng chốt tại An Cựu và Phú Cam phòng ngăn quân tiếp viện đến từ phía Nam.

31/01 – 03/02/1968: Việt Cộng kiểm soát được thành phố trong 4 ngày đầu. Sáng 01 tháng 2, họ tập họp dân chúng trong vùng bị kiểm soát, bắt học tập tư tưởng Mác-LêNin rồi cho về để chứng tỏ sự “khoan dung” của phe thắng trận, khuyến khích dân đi rủ những người còn đang trốn tránh ra trình diện. Rất nhiều người rơi vào bẫy này. Tuy nhiên, trong cùng thời gian, Tướng Ngô Quang Trưởng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã thành công trong việc gọi quân về để cũng cố phòng thủ Đồn Mang Cá ở phía Đông Cổ Thành.

04 – 05/02/1968: Chiến trận tạm lắng vì cả hai bên đều kiệt lực, nhất là vì Việt Cộng hết đạn (có điện đánh về Hà Nội ngày 5/2/1968).

06-07/02/1968: “Vào ngày thứ bảy của trận chiến, Hoa Kỳ nhập cuộc.” Tuy chiếm được đa số các mục tiêu nhưng vì đạn đã cạn gần hết, Lê Minh họp cấp chỉ huy và đề nghị rút lui vì “một chiến thắng quyết định” không thể đạt được. Lê Minh ra lệnh mang các chiến lợi phẩm về căn cứ của Việt Cộng tại vùng quê và trong rừng, cũng như tải thương và mang tù binh ra khỏi thành phố.

07-09/02/1968:


Lo ngại sự phản công của quân đội VNCH, Việt Cộng phá cầu Trường Tiền vào đêm 7 tháng 02. Nhưng thay vì rút lui, Tướng Bắc Việt Trần Văn Quang đã đến Huế và tái phối trí các đơn vị dưới quyền Lê Minh, rồi ra lệnh dồn hết sức tấn công đồn Mang Cá. Sau 3 tiếng đồng hồ giao tranh dữ dội (từ 9 giờ đêm đến 12 giờ khuya ngày 9/02), nỗ lực này của Bắc Việt đã hoàn toàn thất bại, và quân xâm lược đã phải rút khỏi trận địa. Một điện tín thứ hai được gửi cấp tốc về Hà Nội xin tiếp viện quân và đạn dược. Yêu cầu thứ hai này được Hà Nội hứa chuẩn y, ký bởi 3 vị tướng cao nhất là Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, và Song Hào. Một điện tín khác, sau đó, cũng từ Hà Nội hứa sẽ gửi binh tiếp viện.

10 – 15/02/1968:


Đạn dược tiếp liệu do Hà Nội hứa không bao giờ đến, và đội binh tiếp viện đã bị Sư Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ chặn và gần như tiêu diệt hoàn toàn trước khi đến Huế. Ngày 10/02, quân lực VNCH đã bắt đầu càn quét khi địa phương quân thay thế các đơn vị nhảy dù để họ có thể quay sang tấn công quân Bắc Việt.

12/02/1968:


Thủy quân lục chiến Việt Nam đến thay thế lực lượng nhảy dù. Một đơn vị Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ (Đại đội 1 của Robert Thompson, Sư đoàn 5 Thủy quân lục chiến) cũng vượt sông Hương và bắt liên lạc với Tướng Trưởng tại đồn Mang Cá.

12 – 20/02/1968:


Giao tranh dữ dội, trên mọi đường phố và trong từng căn nhà với sự can dự của Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ ở phía Đông và Đông Nam Cổ Thành. Việt Cộng phản công dữ dội khi Thủy quân lục chiến Việt Nam cố mở đường tấn công vào phía Tây Nam Cổ Thành, nhằm cắt đường tiếp viện của địch. Ngày 16 tháng 02, quân lực VNCH thành công trong việc tràn lên các vị trí của địch và hai ngày sau đó, 18 tháng 02, đã đến cửa Chánh Tây và góc Tây Bắc của Cổ Thành.

14/02/1968:


Đài Phát Thanh Hà Nội thông báo sự thành lập chính quyền địa phương với Lê Văn Hảo làm chủ tịch (thị trưởng), kèm theo hai bên là hai phó chủ tịch phái nữ. Đứng sau Lê Văn Hảo là một số nhân vật có tiếng tại Huế mà người dân thành nội tin rằng chính là thủ phạm của các vụ Thảm Sát Tết Mậu Thân tại Huế: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Tôn Thất Dương Tiềm, v.v…)

21/02/1968:


Dưới áp lực nặng nề của 3 lữ đoàn Thủy quân lục chiến VNCH, không kể Sư Đoàn 1, và 3 tiểu đoàn Hoa Kỳ, quân Bắc Việt “quyết định rút, bởi vì bây giờ dù quân chi viện có vào nữa thì cũng không thay đổi được tình thế.”

22/02/1968:


Quân Bắc Việt cố gắng trong tuyệt vọng làm một cuộc phản công hầu tạo xao động cho lính VNCH. Nhưng Trần Ngọc Huế và đội Hắc Báo của ông đã tập hợp chống trả mạnh mẽ và chiến thắng.

24/02/1968:


Cuối cùng, quân lực VNCH đã thành công trong việc tái chiếm kỳ đài để hạ cờ Việt Cộng vào lúc 5 giờ sáng, và thay bằng lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa nơi cửa Thượng Tứ.

Tổn thất


Hà Nội chưa bao giờ công bố số quân Bắc Việt tử vong tại Huế, tuy một bài thơ của Chế Lan Viên (1920-1989) đã tự thú nhận:

Hai ngàn quân tràn xuống đồng bằng

Chỉ ba mươi người trở lại…

Trần Văn Trà viết “Có những đơn vị tham chiến mà không ai sống sót trở về,” có lẽ để nói về trận chiến tại Huế. (Bài viết năm 1993, trang 62).

Thống kê của đồng minh ước đoán lính Việt Cộng tham chiến tại Huế có khoảng 7.500 người[33] (tương đương với 15 tiểu đoàn), trong số đó 5.000 tử trận tại chỗ, còn 3.000 xác khác được tìm thấy tại những vùng đất chung quanh Huế. Tuy thật là khó tin, song xác những lính chính quy Bắc Việt tìm được chung quanh các đồi phía Tây của Huế có thể là những nhân sự Hà Nội đưa vào Nam với hoang tưởng là đã chiếm xong được Huế. Chỉ điều này mới giúp giải nghĩa được cảnh tượng sau đây trong những ngày chiến đấu cuối cùng tại Huế, như lời kể của Andrew Wiest qua tác phẩm Vietnam’s Forgotten Army: “Khi tiến lên cùng với lính của mình, Trần Ngọc Huế không thể tin vào mắt ông: những xác chết còn nguyên quân phục mới tinh, xếp chồng chất lên nhau hàng hàng lớp lớp ngút tầm mắt, tràn ra khỏi các mương rãnh, hố cá nhân và bụi rậm. [… Cuối cùng, tìm ra một người lính Bắc Việt còn sống] Huế hỏi tại sao đội quân của anh ta lại mặc quân phục đại lễ và mang theo cờ. Người tù chán nản trả lời: “Họ bảo chúng tôi rằng Huế đã được giải phóng và chúng tôi đến để diễu hành mừng chiến thắng.” (trang 116)

Nhật ký của Lê Minh xác nhận điều này: “Đến ngày 26.2.68 thì tất cả đã rút ra khỏi thành phố. Thực sự là bắt đầu rút từ ngày 22, và cuộc rút lui kéo dài trong 5 ngày mới kết thúc. Vì các chiến lợi phẩm đưa ra tấp ở ngoại thành hoặc ven rừng đều đã bị địch phản kích chiếm lại hết, nên lên rừng người nào là đói ngay trong ngày đó. Sau cuộc liên hoan mừng chiến thắng (sic) có cả nhân sĩ trí thức Huế ở Khe Trái thì cả rừng ăn muối. Khó khăn ập tới sau khi rút ra khỏi Huế là giống như tình hình hồi vỡ mặt trận.”

“Hàng vạn người đã lên rừng phải lo ăn,” Lê Minh tiếp tục, “người ở ngoài kia [Bắc Việt] tiếp tục ập vào, nào công an, đài phát thanh, truyền hình, cục lưu trữ, kể cả cảnh sát giao thông, v.v… ở đâu cũng đòi gạo đòi muối; trong khi đó Trung ương lại cứ tiếp tục giao nhiệm vụ đánh Huế đợt 2 [vào tháng 05/1968].”

Về phía đồng minh, Việt Nam Cộng Hòa bị tử thương 384 người, 1.800 người bị thương, và Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ báo cáo 147 tử thương, 857 bị thương nặng cần chuyển về bệnh viện.

Tuy vậy, con số dân lành bị thiệt mạng trong cuộc chiến tại Huế thật khổng lồ. Gần 7.000 người mất tích, trong khi chỉ có 844 tử thương và 1.900 bị thương vì bom đạn. Trong số mất tích người ta tìm được 2.800 tử thi từ các hầm chôn tập thể ở rải rác nhiều nơi trong thành phố, nhất là tại Gia Hội, nơi nhiều người dân bị xử tử, và khoảng 19 địa điểm khác quanh Huế. Các nạn nhân này bị tàn sát bất kể người già, phụ nữ, trẻ em, ngay cả trẻ sơ sinh. Việt Cộng sợ rằng nếu có người sống sót trở về, họ sẽ tiết lộ các nơi trú ẩn của tàn quân Bắc Việt.

Về chuyện này, ngay cả Lê Minh cũng bị nhói trong tim khi viết trong hồi ký: “Tôi thấy cần phải nói đến một điều đáng buồn. [Về] sự tang tóc trong biến cố Mậu Thân [. . .] còn lại một mặt của vấn đề, việc trừng trị những người có tội ác với nhân dân (sic) trong một cuộc chiến tranh là điều không tránh khỏi, một khi quần chúng (sic) đã nổi dậy. [. . .] Rốt cuộc là đã có những người bị xử lý oan trong chiến tranh. Dù lý do thế nào thì trách nhiệm vẫn thuộc về lãnh đạo, trong đó có trách nhiệm của tôi.”

Nhận định sơ khởi


Với những khảo sát kể trên, tôi mong là đã làm rõ được một số vấn đề chung quanh trận Mậu Thân tại Huế - một trong những cuộc giao tranh quan trọng nhất trong chiến tranh Việt Nam. Trận chiến quân sự, với tất cả những tính toán sai lầm và những giây phút hèn nhát ở cả hai phía, đã là một thiên hùng ca cho cả 3 quân đội: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, và Quân Bắc Việt. Cả ba đã vượt sức mình để chiến đấu. Trong trận chiến chính trị, rõ ràng là Việt Cộng đã lầm to khi tiên đoán về cảm tình của người dân Huế[34] mà họ hy vọng sẽ đứng về phía họ, một chuyện đã không xảy ra. Thế nhưng Việt Cộng đã thật bất ngờ khi cuộc tổng công kích Mậu Thân đã đưa Hoa Thịnh Đốn đến quyết định hoàn toàn thay đổi chiều hướng của cuộc chiến.

Trên phương diện đạo đức, cuộc Thảm sát tại Huế năm 1968 sẽ đi vào lịch sử như một hành động cực kỳ tàn ác, vô nhân, và vô nghĩa lý của Cộng Sản Việt Nam, nhắm vào người dân lành, mà chính Lê Minh, người chỉ huy quân Bắc Việt, cũng đã tự nhận có một phần trách nhiệm trong đó. Do vậy nên tất cả các chối bỏ tội ác bởi những đầu óc lệch lạc như Gareth Porter[35] nhằm biện minh cho Cộng Sản là hoàn toàn không đứng vững.

Keith Nolan cũng không có lý trong tác phẩm Battle for Hue của ông khi chối bỏ vai trò của Quân Lực VNCH trong trận chiến đặc biệt này, và hạ vai trò của họ xuống như là chỉ đi “theo dọn dẹp chiến trường cho Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ” (trang 87), cũng như kết án họ là “đi từ nhà này sang nhà khác như những nhóm có tổ chức để hôi của.” Ông Andrew Wiest đã công bằng hơn khi viết: “Từ những nỗ lực đầu tiên để giải tỏa khu MACV, các Thủy quân lục chiến Mỹ đã biểu lộ sự can trường cá nhân và sức chiến đấu của các đơn vị, một truyền thống của TQLC Mỹ, một binh chủng mà vẫn được xem như đòan bộ binh thiện chiến nhất thế giới. Rõ ràng là phía Hoa Kỳ đã hy sinh vô vị lợi. TQLC Mỹ đã chính tự thân giải phóng được thành phố mới ở phía Nam sông Hương và đánh một trận chiến hùng sử ở trong Cổ Thành, với 147 người bị tử thương. Song, trong một trận chiến ít được ngợi ca, Quân Lực VNCH đã thực sự đóng vai chính khi anh dũng chiến đấu để giành lại Thành Nội, những đơn vị thiếu quân số của họ đã đánh bại các lực lượng tự phụ của Bắc Việt và Việt Cộng trong trận chiến dai dẳng và đắng cay mà không hề có sự hỗ trợ trực tiếp của pháo binh cơ hữu hạng nặng. Tại chiến trường này, với số tử vong là 357 chiến sĩ, lính VNCH đã gây – một con số lạ kỳ - là 2.642 cái chết ngay trong lúc giao tranh cho bộ đội Bắc Việt và Việt Cộng.”[36]

Cuối cùng, tôi tin rằng Tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ, Tướng William C. Westmoreland, đã có nhận xét và thông tin đúng đắn hơn Keith Nolan: “Rất nhiều người Mỹ tham dự trận chiến Tết Mậu Thân […], tuy nhiên… chỉ có một trận tấn công lớn của Việt Cộng vào căn cứ Hoa Kỳ tại vòng đai của Long Bình. [… Như vậy] nói chung, cuộc Tổng tấn công Mậu Thân 1968 của Cộng Sản đã hoàn toàn bị đẩy lui bởi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Chúng ta cần vinh danh Quân Lực VNCH, không quân Việt Nam, địa phương quân, cảnh sát quốc gia – tất cả đã đóng vai trò chính yếu trong việc đẩy lui cuộc tấn công của Cộng Sản.”[37]

Nhận định tổng quát


Như ai đã làm thầy giáo đều biết, nhận định công bằng nhất đối với một trận đánh phải đặt trên mục tiêu tiên khởi đưa đến việc làm ấy. Chỉ khi đó chúng ta mới thực sự đo lường được sự thành công hay thất bại trong công việc.

Với ý tưởng này, thiết tưởng cũng nên nhắc lại tên do chính Hà Nội đặt cho cuộc tổng tấn công Mậu Thân là “Tổng Công Kích - Tổng Nổi Dậy.” Đó là vì trong lối nhìn của Hà Nội, họ không chỉ muốn ngừng lại ở chiến thắng quân sự (dù như có được), mà còn muốn nó được kèm theo bởi hình ảnh của một cuộc tổng nổi dậy[38] để cho hành động xâm lăng này xem ra có “chính nghĩa.” Nói cách khác, Hà Nội không muốn bị nhìn là một kẻ hiếu chiến, mà muốn mang mặt nạ của một kẻ đi “giải phóng” nạn nhân của bất công, giúp những người từ lâu bị đàn áp dưới “chính thể tàn độc,” mà Hà Nội phỉ báng là “Đế quốc Mỹ” và “ngụy quyền Sài Gòn.”

Về phương diện này, cuộc tấn công Tết Mậu Thân của Bắc Việt không chỉ là một thất bại quân sự nặng nề, mà còn là một thảm bại về chính trị lớn lao cho họ vì ở cả 25 thành phố và tỉnh lỵ bị tấn công trong năm định mệnh ấy, không nơi nào người dân Việt tiếp đón Cộng Sản cả. Ngay cả ở Huế, nơi mà trong suốt 3 năm trước đó, thành phố đã sôi sục với phong trào Phật Giáo đối lập với chính quyền Sài Gòn.[39]

Lúc đầu, Cộng Sản cố gắng khoác lên bộ mặt nhân đức. Hướng dẫn bởi các tên nằm vùng, với danh sách trong tay, cán bộ Cộng Sản đến từng địa chỉ đã định và đòi hỏi chủ nhà phải ra trình diện trong buổi họp mặt với “chính quyền mới.” (Hiểu là: chúng tôi biết đích xác là các anh ở đâu). Sau đó, người dân được thuyết giảng về “cách mạng” và bị răn đe rằng cuộc “cách mạng” này, tuy “nhân đạo” song sẽ không tha thứ cho bất cứ ai chống đối. Rồi họ cho phép những người dân này trở về nhà và khuyến khích những người đang ẩn trốn đi ra trình diện. Không ít người rơi vào cái bẫy này: những người ra đầu thú bị bắt ngay lập tức, và có người còn bị xử bắn ngay trước mặt thân nhân, điển hình cho cái gọi là “công lý cách mạng.”[40] Giai đoạn thứ ba, các thanh niên sinh viên được gọi ra trình diện và bị bắt đào các đường mương, hào làm chỗ trú bom cho bộ đội trong trường hợp bị thả bom hay pháo kích. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, ai cũng nhìn ra rằng các hào sâu này chính là nơi Cộng Sản xử bắn những người bị gán tội “kẻ thù của nhân dân.”[41] Vì Việt Cộng cần tiết kiệm đạn, đa số nạn nhân bị chôn sống sau khi bị đập vào đầu bằng báng súng hay “đánh cho chết bằng xẻng cuốc.”[42] Nạn nhân của giai đoạn này đa số là đàn ông từng làm việc với cảnh sát và chính quyền Miền Nam. Cuộc hành quyết kéo dài nhiều đêm tại nhiều nơi khác nhau trong thành phố.

Khi cuộc chiến đang diễn ra, Cộng Sản khám phá chỗ trú ẩn của nhiều người. Ban đầu, họ tập họp tất cả lại như tù nhân, nhưng chẳng bao lâu sau những tù nhân này bị xem như gánh nặng vì không đủ lương thực, thiếu phòng vệ sinh, và nếu gia đình đi thăm nuôi thì lại trở thành vấn đề thông tin phản gián, đưa đến quyết định là dời tù ra ngoài thành phố, đưa lên vùng đồi núi, hay giản dị hơn là thủ tiêu nạn nhân.[43]

Hoàn cảnh xấu nhất xảy ra khi, không thể chống lại sự phản công của phe quốc gia trong những ngày cuối, Cộng Sản phải quyết định triệt thoái lên núi. Việc rút này phải được tuyệt đối bảo mật. Họ đã thử dời tù nhân lên vùng đồi núi để giữ làm con tin hay làm bia đỡ đạn. Nhưng vì con số tù nhân quá đông, nên điều này trở thành không thể.[44]

Hơn nữa, không đủ lương thực để nuôi tù, không đủ thời gian để đưa họ đi ra Bắc. Thả tù ra là một đề nghị nguy hiểm vì chắc chắn tù binh được thả sẽ tiết lộ đường rút quân. Từ đó đưa đến quyết định bịt miệng và thủ tiêu nhân chứng. Điều này giải thích cho rất nhiều mồ chôn tập thể được tìm thấy sau này, dọc theo con đường rút quân của các đơn vị bộ đội Bắc Việt.

Ai là thủ phạm của quyết định giết dân lành?

“Thị trưởng” Huế trong thời gian này là Lê Văn Hảo (giữ chức Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên, Huế) – sau đã trốn sang Pháp – không nhận đây là tội của ông.[45] Ông khai rằng mình chỉ bị giật dây và sai khiến, không có tiếng nói trong mọi quyết định của Cộng Sản tại Huế. Hoàng Phủ Ngọc Tường, người sau này có vị thế lớn tại Huế, cũng nói ông không nhúng tay vào thảm kịch ghê sợ này – nhưng dù sao, như Lê Minh, ông ta đã không chối là có các mồ chôn tập thể [46]; trong khi Gareth Porter hay Philip Hones Griffith, một người phản chiến, lại muốn đổ tất cả tội vào bom đạn của Hoa Kỳ. Nhưng ít ra thì, người dân Huế, cho đến ngày hôm nay, 40 năm sau, vẫn còn nhớ như in cảnh Hoàng Phủ Ngọc Phan (em trai Hoàng Phủ Ngọc Tường) và Tôn Thất Dương Tiềm, hay Nguyễn Đắc Xuân[47] dẫn đường cho Cộng Sản đi từng nhà điệu nạn nhân ra, kết án họ đã “mắc tội với nhân dân” và có khi còn đọc bản án tử hình cho một số nạn nhân. Đây là đợt thảm sát đầu tiên trong thành phố Huế như Gia Hội.

Còn những nạn nhân bị giết trên đường rút lui của Cộng Sản thì trách nhiệm phải thuộc những người chỉ huy quân đội như Lê Minh - người đã tự nhận một phần trách nhiệm – hay những người chỉ huy thấp hơn, đã tự động thủ tiêu nạn nhân trước rồi báo cáo sau – như Lê Minh ngụ ý trong lời khai của ông. Tuy nhiên, cách hành xử này đã rất phổ biến, đưa đến ít nhất là 22 mồ chôn tập thể được tìm ra sau này, và cho thấy lệnh thủ tiêu dân lành có thể được ban ra từ cấp chỉ huy cao hơn cả Lê Minh, rất có thể là từ Tướng Trần Văn Quang, tư lệnh quân khu Trị - Thiên - Huế, hay ngay cả từ Hà Nội.[48]



Phụ chú


[1] Davidson, sđd.

[2] “Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân” là cách gọi vắn tắt cho một chiến dịch mà người Cộng Sản Việt Nam gọi là cuộc “Tổng Công Kích Tổng Nổi Dậy Tết Mậu Thân 1968,” một danh từ dài ngoằng và trúc trắc, tuy nhiên cũng chứa được phần nào nội dung mà Hà Nội mong đạt được trong dịp tấn công lén miền Nam sau khi xé bỏ cuộc hưu chiến do chính họ đề nghị.

[3] Bùi Tín, From Enemy to Friend (“Từ Thù Thành Bạn”), Annapolis: Naval Institute Press, 2002, trang 64 (“We did not recover until 1972,” Chúng tôi không phục hồi cho đến tận năm 1972). Trần Văn Trà là vị chỉ huy tối cao của Việt Cộng gốc Nam trong chiến trường miền Nam hồi bấy giờ. Những suy tư của ông được ghi lại trong Những Chặng Đường Lịch Sử của B2 Thành Đồng - Kết Thúc Cuộc Chiến 30 Năm, tập 5 trong một bộ về toàn cuộc chiến tại miền Nam, mà cho đến nay vẫn chưa hoàn tất. Tập 5 và cũng là tập cuối, do nhà xuất bản Văn Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh đưa ra, được đồn đại là đã được viết ra để phản biện lại tác phẩm Đại Thắng Mùa Xuân của Văn Tiến Dũng, một bản tường trình về chiến dịch Hồ Chí Minh mà kết quả cuối cùng là chiếm xong Sài Gòn. Nhưng sách của Văn Tiến Dũng nhằm đề cao vai trò của quân đội Bắc Việt và hạ thấp vai trò của Quân Đội Giải Phóng, tức cánh tay võ trang của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Trong bài viết cho sách The Vietnam War: Vietnamese and American Perspectives (“Chiến tranh VN: Những cách nhìn từ hai phía Việt Mỹ”), Jayne S. Werner and Lưu Doan Huynh, eds. (Armond, NY: M.E. Sharpe, 1993), trong chương tựa đề “Tết: Tổng Công Kích và Tổng Nổi Dậy năm 1968,” trang 57, Trần Văn Trà thú nhận: “Losses, both in troop strength and materiel, caused us untold difficulties in coping with the enemy’s frenzied counterattacks and rapid pacification activities in the 1969-70 period.” (“Tổn thất, cả về lực lượng quân sự lẫn quân nhu quân cụ, tạo cho chúng tôi nhiều khó khăn không thể kể hết trong việc chống đỡ những đợt phản công dữ dội của quân địch cùng những hoạt động bình định của họ trong những năm 1969-1970.”)

[4] . Philip B. Davidson, Vietnam at War: The History, 1946-1975, Oxford University Press, 1988, trang 475 (The Tet Offensive for all practical purposes destroyed the Viet Cong.”)

[5] . Câu hỏi “Cộng Sản đã thực sự chiếm đóng Huế bao lâu?” đã được trả lời bằng nhiều cách tính: có tác giả cho rằng đến 28 ngày, thậm chí có người còn viết tròn thành “một tháng.” Cuốn Lịch Sử Việt Nam, 1945-1975 của nhóm Trần Thục Nga (chủ biên), Bạch Ngọc Anh, Trần Bá Đề, Nguyễn Xuân Minh, Nhà xb Giáo Dục, 1987, trang 145, đã chính xác khi ghi là trận Huế bắt đầu từ 02:33 a.m. ngày 31 tháng 01/1968 và chấm dứt ngày 24/02/1968, tổng cộng “25 ngày liên tục.”

[6] . Thực ra, trong chương trình “CBS Evening News” truyền đi ngày 27 tháng 02/1968, Cronkite gọi “Tết là một chiến bại của Hoa Kỳ” và nói rằng “Cách duy nhất để thoát ra là hòa đàm, không trong vai người chiến thắng mà là rút lui trong danh dự.” (Edward J. Epstein, “Vietnam: What Happened vs. What We Saw: We Lose Our Innocence,” TV Guide, October 6, 1973, trang 13-F.)

[7] . David Culbert, “Television’s Vietnam, The Impact of Visual Images” (phim tài liệu truyền hình như được ghi lại trong báo The Monitor của thành phố McAllen, TX, March 20, 1981).

[8] Hiệp định Genève 1954 gồm “Hiệp định ngưng chiến tại Việt Nam” nói cách khác, sự đồng ý ngưng chiến tranh quân sự giữa Pháp và Việt Minh ký ngày 20 tháng 07/1954, và một phần không ai ký gọi là “Tuyên bố cuối cùng” (“Final Declaration”) nói đến sự thống nhất của Việt Nam qua một cuộc Tổng Tuyển Cử với sự giám sát quốc tế, dự định sẽ diễn ra vào tháng 07/1956. Tuy nhiên, trước đó cần có sự tham vấn giữa “những đại diện có thẩm quyền của hai miền kể từ 20 tháng 7/1955 trở đi.” (George Mc.T. Kahin và John W. Lewis, The United States in Vietnam, New York: The Dial Press, 1967, trang 48-54.) Vì các cuộc tham vấn này không bao giờ xảy ra thì đương nhiên ta phải rút kết luận là cuộc đình chiến vẫn còn giá trị ngày nào chưa có một giải pháp chính trị. Sự đồng ý ngầm giữa cả Hà Nội lẫn Hoa Thịnh Đốn thể hiện qua việc năm 1959, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã ấn hành một “Bạch Thư” mang tựa đề là Sự xâm lăng từ miền Bắc (Aggression from the North) và Bắc Việt trong một thời gian dài tiếp tục chối rằng họ không liên hệ gì đến cuộc chiến tại miền Nam, nhất quyết cho rằng đó là sự nổi dậy của dân miền Nam chống lại chế độ độc tài Ngô Đình Diệm.

[9] Cuộc chiến tại Huế chỉ được kể lại bằng Anh Ngữ duy nhất trong tác phẩm của Keith W. Nolan, Battle for Huê, Tet 1968, Novato, CA: Presidio Press, 1983. Nhưng nó lại hoàn toàn dựa vào các cuộc phỏng vấn cựu chiến binh Hoa Kỳ về trận chiến, do đó, bỏ ra ngoài tất cả những câu chuyện có sự đóng góp của người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nolan đã trung thực khi bắt đầu tác phẩm bằng lời dẫn: “Nếu đó là một chiến tranh được quần chúng ưa chuộng như Thế chiến II, cuộc chiến giành lại Huế ngày hôm nay sẽ trở thành một cái tên quen thuộc. Quan trọng hơn nữa, những chiến sĩ sống sót trở về đáng ra phải được đón chào như những anh hùng, và người tử trận đáng ra phải được vinh danh. Song điều này đã không xảy ra.” Người Việt cả hai miền đều có những ký ức sâu đậm về trận Huế, nhưng tôi e rằng đã quá trễ để kể lại được thật đầy đủ về trận chiến này khi Tướng Ngô Quang Trưởng, vị anh hùng không thể chối cãi được của Huế, vừa qua đời năm 2007.

[10] . Peter Braestrup, Big Story, 2 Volumes, Boulder, CO: Westview Press, 1977. Epstein, sđd., kể rằng vào cuối năm 1968, một phóng viên chiến trường cho NBC đề nghị “ … làm một chương trình 3 phần cho thấy trận chiến Tết 1968 thực sự là một chiến thắng lớn của Hoa Kỳ mà truyền thông đã phóng đại một cách sai lạc cho rằng đó là một sự thất bại của miền Nam Việt Nam.” Sau một số cân nhắc, ý tưởng này bị phản đối vì… “hình ảnh Tết Mậu Thân như một chiến bại của Hoa Kỳ đã được in sâu vào đầu óc quần chúng, và như vậy nó vẫn bị xem là một chiến bại…” Philip B. Davidson viết “Trong thế giới hoang tưởng của truyền hình, sự tưởng tượng bỗng biến thành sự thực.”

[11] Languth, Our Vietnam: The War , 1954-1975, Simon & Schuster, 2000, trang 468-530.

[12] Lyndon B. Johnson, The Vantage Point, Perspectives of the Presidency, 1963-1969, New York: Rinehart and Winston, 1971, trang 435.

[13] Davidson, sđd.

[14] Robert D. Schulzinger’s A Time for War: The United States and Vietnam, 1941-1975, Oxford University Press, 1997.

[15] William S. Turley, The Second Indochina War, A Short Political and Military History, 1954-1975, New American Library, 1986.

[16] George C. Herring, America’s Longest War, The United States and Vietnam, 1950-1975, John Wiley & Sons, 1979.

[17] Neil Sheehan, A Bright Shining Lie: John Paul Vann and America in Vietnam, New York: Random House, 1988.


[18] Michael McClear (viết) and Hal Buell (người sắp xếp các hình ảnh), Vietnam, A Complete Photographic History, New York: Tess Press, 2003. Cần chỉ ra rằng Michael McClear, tác giả người Canada của chương trình truyền hình The Ten-Thousand Day War (10 đoạn, mỗi đoạn dài 1 tiếng), đã không cả che đậy sự thiên lệch của mình (so với chương trình của PBS, Vietnam, A Television History). McClear đã nhờ đại tá Hà Văn Lâu, đại sứ quan sát viên của Hà Nội tại Liên Hiệp Quốc, làm nhân vật chính và duy nhất được lên tiếng và giải thích cho toàn bộ chương trình, từ đầu đến cuối.

[19] . Languth, sđd.

[20] . Trần Thục Nga et al., sđd.

[21] . Nguyễn Đức Phương, Chiến tranh Việt Nam toàn tập, Toronto: Làng Văn, 2001.

[22] . Phạm Văn Sơn, “Trận Chiến Tết Mậu Thân 1968,” trong tác phẩm của Phạm Văn Sơn & Lê Văn Dương, Cuộc Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa của Việt Cộng Mậu Thân 1968, Saigon: Phòng 5/ BTTM, 1968. Được in lại trong Tưởng Niệm 40 Năm Tết Mậu Thân & 34 Năm Trận Hải Chiến Hoàng Sa của Hải Quân Quân Lực VNCH, Nam Cali: Trách Nhiệm, 2007, trang 87-128. (Tác phẩm này sẽ được nhắc đến dưới tên gọi tắt là Tưởng Niệm.)

[23] . Nguyễn Đức Phương, sđd. Trích dẫn Phạm Văn Sơn và Lê Văn Dương.

[24] . Như trên, do một nguồn tin Cộng Sản cho biết (G. Sơn, Giờ G Ngày N và Yếu Tố Bất Ngờ, Mậu Thân Sài Gòn, Nhà xb Trẻ, Tp HCM, 1988).

[25] . Lê Minh thuật lại trận chiến tại Huế trong “Huế trong chiến dịch Mậu Thân,” Sông Hương, Số 29, Huế, tức Số Tết 1988. Tạp chí Sông Hương do Hoàng Phủ Ngọc Tường làm chủ bút. Lời kể của Lê Minh được Trần Phố Minh trích đoạn trong bài “Mậu Thân 68, mặt trái của 30.4.1975,” Quê Mẹ, Số Tết Mậu Dần 1998, Gennevilliers, Pháp quốc, trang 9-11, 16. Tất cả những trích dẫn trong bài này, tức là sự tường thuật theo quan điểm của đối phương, như theo hồi ức của Lê Minh, là trích từ trong bài của Trần Phổ Minh viết trong Quê Mẹ.

[26] . G. H. Turley, The Easter Offensive, Novato, CA: Presidio Press, 1985.

[27] . Vai trò trọng yếu của Hoàng Kim Loan và các cán bộ Cộng Sản nằm vùng tại Huế đằng sau phong trào Phật Giáo trong hai năm 1966-67 dẫn đến Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân tại miền Trung đã được Cựu Phó Cảnh sát trưởng Liên Thành kể lại chi tiết trong Tập San Biệt Động Quân, in lại trong Tưởng Niệm, trang 176-243.

[28] . Nguyễn Lý Tưởng, “Mậu Thân ở Huế” trong sách Tội Ác Đảng CSVN trong biến cố Tết Mậu Thân 1968, Trần Trọng An Sơn chủ biên, 2008, trang 50. (Tài liệu này sẽ được nhắc đến dưới tên tắt Tội Ác.) Bà Tuần Chi, hay Bà Nguyễn Đình Chi, là cựu hiệu trưởng trường nữ trung học Đồng Khánh nổi tiếng tại Huế.

[29] . Hồ Đinh, “Hoàng Phủ Ngọc Tường, Kẻ hái phù du sau thảm sát Tết Mậu Thân 1968 tại Huế” trong Tội Ác, trang 37-39. Vào năm 1968, Hoàng Phủ Ngọc Tường là một sinh viên văn khoa tại Đại Học Huế, nhưng cũng đang dạy Triết tại một trường trung học.

[30] . Languth, sđd., trang 477. Người Lính Già Seattle, “Hồi Ký về Tết Mậu Thân tại Huế” trong Tội Ác, trang 35-36.

[31] . Đây đó trong tập Tội Ác. Hầu như tất cả các bài viết trong sách Tội Ác đều nhắc đến tên những người này và một số khác ít nổi tiếng hơn, những kẻ đã tiếp tay chỉ điểm cho Cộng Sản và bị người dân Huế muôn đời khinh rủa vì đã phản bội và giết hại dân lành.

[32] . Các tài liệu sử dụng để viết nên phụ đính “Diễn tiến cuộc chiến tại Huế” và để tả lại cuộc giao tranh quân sự tại Huế trong dịp Tết 1968 được đúc kết từ nhiều nguồn khác nhau, gồm cả phỏng vấn một số người trực tiếp tham chiến, và những báo cáo hậu trận, không thể kể hết ra đây được. Tuy nhiên, tôi xin được nêu ra vài khó khăn trong khi đúc kết. Thí dụ, Cộng Sản đặt nhiều tên khác nhau cho một đơn vị của họ, trong cố gắng gây hoang mang cho địch và đồng thời che dấu hình tung thực sự của những đơn vị tham chiến. Một tiểu đoàn có thể được gọi bằng tên hiệu, như tiểu đoàn Sông Lô vì họ đã tham dự trận đánh Sông Lô năm 1948. Hay một đơn vị có thể được gọi bằng tên của một anh hùng trong đoàn, như trung đoàn Cù Chính Lan (Lữ đoàn 9 của quân đội Bắc Việt), do Trung Tá Di chỉ huy. Rồi một số đơn vị lại được gọi khi thì là tiểu đoàn, khi thì là trung đoàn, như các đơn vị 800, 802, 804, 806. Tôi đã cố gắng hết sức để xác định các tài liệu này, khi có thể. Với câu hỏi ai là người chỉ huy quân Bắc Việt trong cuộc tấn công Huế, có một số chi tiết không rõ ràng. Bài viết của Hồng Lĩnh trong sách Tội Ác, trang 58, cho biết Nguyễn Vạn chỉ huy lữ đoàn 5 (D.R. Palmer, trong Summons of the Trumpet, cho biết cấp của ông ta là Trung Tá; thế nhưng, theo Chính Đạo, trong Tội Ác trang 45, thì lữ đoàn này thuộc quyền chỉ huy của Thân Trọng Một), và Trung Tá Nguyễn Trọng Dần (theo Chính Đạo, Tội Ác, trang 44, thì là Nguyễn Trọng Dậu – nhưng theo John Prados, sđd, trang 155, thì lại là Đại Tá Nguyễn Trọng Tấn) chỉ huy lữ đoàn 6 tấn công Huế, và rất nhiều tác giả khác không đồng ý với các chi tiết này. Bỏ câu hỏi này sang một bên, thắc mắc về ai trong 3 đơn vị Quân Lực VNCH là người có công dựng lại lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của miền Nam Việt Nam tại Kỳ Đài sau 25 ngày chiến đấu cũng đủ làm người ta phát điên: một nguồn nói rằng đó là lực lượng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam và Sư đoàn 1 Bộ Binh là người thượng kỳ vào sáng ngày 23 tháng 02, 1968 (Tưởng Niệm, trang 85), một nguồn khác nói đó là một tình nguyện quân từ tiểu đoàn 2/3 của Phạm Văn Đính (Sư Đoàn 1 Bộ Binh) đã trèo lên kỳ đài và phất cao ngọn cờ vàng của miền Nam Việt Nam “trong buổi sáng tinh mơ ngày 24 tháng 02” (Andrew Wiest, Vietnam’s Forgotten Army, trang 118), nguồn thứ ba cho rằng Đại Đội Hắc Báo của Trần Ngọc Huế đã có vinh hạnh được trao cho nhiệm vụ ấy (Keith Nolan, Battle of Hue, trang 172; Wikipedia bài về “Battle of Huê” nói: “Vào ngày 24 tháng 02, 1968, Đại Đội Hắc Báo của Sư Đoàn 1 Bộ Binh tái chiếm Đại Nội tại trung tâm Cổ Thành và xé tan lá cờ đỏ của Bắc Việt”), nhưng Thiếu Tá Robert H. Thompson của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ phản đối chi tiết này: “Tài liệu MACV sẽ ghi lại rằng Quân Lực VNCH với sự hỗ trợ của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã tái chiếm Cổ Thành. Chuyện nhảm… Chính Tiểu đoàn 1 thuộc Sư Đoàn 5 Thủy Quân Lục Chiến [Mỹ] tái chiếm Cổ Thành. Lính VNCH chí đứng nhìn.” Trong The Hidden History of the Vietnam War, John Prados không rõ ràng lắm khi viết: “Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam… làm một cuộc tấn công bất ngờ vào đêm 23 sang rạng ngày 24/02/1968. Khoảng 5 giờ sáng ngày 24 tháng 02, lính của trung đoàn 3 đã thay lá cờ đỏ của Bắc Việt bằng lá cờ vàng của Việt Nam Cộng Hòa trên kỳ đài của Cổ Thành. Sau đó quân đội VNCH và lính thủy quân lục chiến Hoa Kỳ tái chiếm hoàn toàn Đại Nội […] Thích hợp làm sao, chính Đại Đội Hắc Báo của Sư Đoàn 1 Bộ Binh đã thượng cờ vàng của Việt Nam Cộng Hòa trên kỳ đài của Cổ Thành.” Nghĩa là theo đó thì ai cũng dự phần vào vinh hạnh này: Thủy quân Lục chiến Việt Nam, Trung đoàn 3 Bộ Binh, Thủy quân Lục Chiến Hoa Kỳ, và Đại Đội Hắc Báo. Cuối cùng, Don Oberdorfer, người đầu tiên viết nguyên một cuốn sách về Tết (New York: Doubleday, 1971), có lẽ đã trích một đoạn từ báo cáo của Tướng Westmoreland trong A Soldier Reports (trang 434) khi ông tướng này đã sai lầm tặng danh dự hạ cờ đỏ của Bắc Việt cho một “đơn vị 50 người của Việt Nam mang tên “Tiger Force” [Lôi Hổ] (Tội Ác, trang 34).

[33] . Cùng vấn đề này, các tin tức thu nhặt có thể hoàn toàn trái ngược nhau. D.R. Palmer, trong Summons, trang 193, viết con số 7.500 lính CSVN nhưng nói rằng “tất cả có khoảng 8 tiểu đoàn” tham dự, thuộc về 2 trung đoàn 5 và trung đoàn 6 của Bắc Việt. Những nguồn khác cho biết có hơn 8 tiểu đoàn, điều này có lý hơn. Keith Nolan, trong Battle for Huê, trang 28-29, viết: “Để tăng cường cho 9 tiểu đoàn địch quân xâm chiếm Huế ngày đầu tiên, có thêm 5 nhóm khác kéo đến: Tiểu đoàn 416 và Trung đoàn 5; Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 6; Trung đoàn 24; Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 90 của quân đội Bắc Việt.” Tên Trung đoàn 90 mà Nolan nhắc đến có lẽ là một sự nhầm lẫn với Trung đoàn 9 của Bắc Việt, nhưng Nolan tiếp tục viết: “Khoảng 6 ngàn lính Bắc Việt đương đầu với Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và Quân Lực VNCH.” Nhưng nhận định này đã ước lượng thấp số lính Bắc Việt, vì nếu tổng số quân của 14 tiểu đoàn chỉ có 6000, thì mỗi tiểu đoàn chỉ có 428 lính (6.000:14 = 428). Do đó, tôi đã chọn con số cao hơn (7.500), với sự nhìn nhận rằng có những bất đồng trong các đơn vị quân sự được đưa vào tổng số sau cùng này.

[34] . “Không nơi nào là có chuyện gì mà có thể gọi được là nổi dậy của dân chúng chống lại chính quyền Sài Gòn” (Bernard G. Nalty, The Vietnam War, Barnes & Noble, 2000, trang 191). Trong Tet 1968, Understanding the Surprise (London: Frank Cass, 1995), một biên khảo công phu dựa vào các tài liệu nguyên thủy bằng tiếng Việt, Ronnie E. Ford, đã tóm lược các tranh luận như sau: “Tại Việt Nam hôm nay, từ các bài viết của Cộng Sản Việt Nam, hai quan điểm chính nổi bật lên về cuộc Tổng Tấn Công Mậu Thân. Không ngạc nhiên, khi một quan điểm xuất phát từ hệ thống quan chức Hà Nội, người hoạch định kế hoạch tổng tấn công, và quan điểm kia thuộc về phía những người phải thực hiện kế hoạch này hay là những người tham chiến tại miền Nam. Quan điểm thứ nhất, bắt nguồn từ Hà Nội mà cho đến nay vẫn là quyền lực chính, rằng Mậu Thân là ‘Đại Thắng Mùa Xuân.’ Tết là điểm ngoặt của chiến tranh Việt Nam. Cuộc chiến ‘vừa đánh vừa đàm’ đã tiến vào thế mạnh, và Cộng Sản đã đạt được một ‘chiến thắng có tính quyết định’ đối với Hoa Kỳ. Từ thời điểm này, chỉ là vấn đề thời gian cho đến khi Hoa Kỳ mất hết tinh thần và thua cuộc. Quan điểm thứ hai, bắt nguồn từ những người thực sự tham chiến tại miền Nam, nhận chân rằng họ đã lầm lẫn […] và cuộc chiến do Bắc Việt khởi động không hề được nhân dân Miền Nam ủng hộ, không thực sự là một cuộc ‘Tổng Nổi Dậy.’” (trang 138-139)

[35] . D. Gareth Porter, “The 1968 “Huê Massacre,” Indochina Chronicle Số 33 (June 24,1974). Một nỗ lực điên khùng của nhiếp ảnh gia Philip Hones Griffith, nhằm chối bỏ cuộc Thảm Sát tại Huế, trong Vietnam, Inc., New York: McMillan, 1971, cho rằng người Hoa Kỳ đã “sáng tạo” ra một cảnh trí mà “cái chết của thường dân vô tội tại Huế thực sự do bom đạn Mỹ gây ra bị tuyên truyền thành tội ác của Cộng Sản.”

[36] . Andrew Wiest, Vietnam’s Forgotten Army: Heroism and Betrayal in the ARVN, New York University Press, 2008, trang 281.

[37] . William C. Westmoreland, A Soldier Reports, New York: Dell, 1976, trang 435-436.

[38] . Lê Duẩn, trong Lá thư vào Nam, Hanoi: Nhà xb Sự Thật, 1985, xác định các mục tiêu của cuộc Tổng Tấn công Tết Mậu Thân như sau: “Một, làm tan rã đại bộ phận của quân đội bù nhìn, lật đổ chính quyền tại nhiều cấp, và giành lại quyền lực về tay nhân dân; Hai, nhằm triệt tiêu các nỗ lực và phương tiện chiến tranh của Hoa Kỳ, khiến họ không thể nào tiếp tục các dự án chính trị và quân sự; Ba, dựa trên căn bản này đánh tan quân xâm lược Mỹ, dồn họ đến thất bại… và cuối cùng đem lại thống nhất cho đất nước.”

Điều này được xác nhận bởi Trần Văn Trà, sđd., 1993, trang 40. Lê Duẩn tưởng tượng: “kế hoạch tổng nổi dậy kết hợp với tổng công kích; khi chúng ta dùng đủ lực lượng và súng đạn để đè bẹp sức mạnh chính của địch… chúng ta cũng sẽ vân động hàng triệu nhân dân trong các thành phố và vùng quê thuộc quyền quân địch để tổng nổi dậy cho kháng chiến.”

Hiển nhiên không một điều nào nêu trên đã thực sự xảy ra. Trần Văn Trà, sđd., trang 55, đã tự bào chữa: “Cuộc Tổng Công Kích của chúng ta đã không ở mức độ cho phép toàn dân cùng tổng nổi dậy.” Philip B. Davidson, trong Vietnam at War, trang 447, nói thẳng hơn: “Sự yếu kém vô cùng của kế hoạch Giáp đưa ra là [kế hoạch Tổng Công Kích] dựa vào một giả thuyết không những không chắc chắn, mà lại sai lầm chết người. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa KHÔNG đào ngũ, đầu hàng, hay tan rã dưới các gọng kềm tấn công của Cộng Sản trong ngày Tết. Toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã chống trả mãnh liệt và hiệu quả hơn bao giờ hết, và chắc chắn sẽ phản ứng như thế nếu có dịp thử thách lần nữa. Dân chúng KHÔNG về theo quân xâm lăng Việt Cộng, dân chúng KHÔNG chống lại chính quyền Thiệu, và dân chúng KHÔNG chống đối lực lượng Hoa Kỳ.”

[39] . Trương Như Tảng, Bộ Trưởng Tư Pháp của Chính quyền Cộng Sản miền Nam vào thời điểm Tết 1968, sau này viết trong Journal of a Vietcong, London: Jonathan Cape, 1986: “Tết và những cuộc tấn công theo sau vào mùa Xuân và mùa Hè năm 1968 đã đem lại nhiều thiệt hại không thể tả được cho cả Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lẫn Quân Đội Bắc Việt.” Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, một nhân vật nổi tiếng của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, cho rằng cuộc tổng tấn công là “một sai lầm thật đần độn.” Hoàng Văn Hoan, một ủy viên Trung Ương Đảng mà sau này sẽ trốn sang Tàu, công bố trong tập hồi ký, Giọt Nước Trong Biển Cả, Bắc Kinh, 1980: “Lê Duẩn đã nhận định sai lầm khả năng của ta và của địch trong chiến dịch Tết 1968. Lực lượng của ta phải triệt thoái với nhiều tổn thất nặng nề về nhân sự, quân lực, và vũ khí.”

[40] . Phạm Văn Sơn và Lê Văn Dương, “Cố Đô Trong Biến Cố,” Tội Ác, trang 83.

[41] . Như trên, trang 83-84. Mới đây, Nam Dao đã có một cuộc phỏng vấn đầy xúc động với một sinh viên bị ép buộc phải vào những toán người đi đào các mương hào sửa soạn cho cuộc hành quyết hàng loạt trong dịp Tết 1968.

[42] . Languth, sđd. trang 477.

[43] . Thành Tín (Bút hiệu của Cựu Đại Tá Bắc Việt Bùi Tín), trong Mặt Thật, Orange County, CA: Saigon Press, 1993, đưa ra giải thích cặn kẽ đến lạnh xương sống về lý do đưa đến thảm sát Mậu Thân tại Huế. Tuy nhiên, ông có vẻ như muốn chạy tội cho những lãnh tụ Cộng Sản cao cấp, và đổ cho các hành động không kiềm chế này (bắn, giết, chôn sống người già, đàn bà, trẻ em, và ngay cả trẻ sơ sinh) là lỗi của cấp chỉ huy quân sự tại địa phương trong hoàn cảnh hỗn loạn. Giải thích này thật khó tin vì các vụ thảm sát xảy ra tại nhiều nơi khác nhau và do nhiều đơn vị Cộng Sản khác nhau tiến hành: họ không thể cùng có một hành động nếu không có chỉ thị chung từ cấp trên. Ít ra, Lê Minh đã nhận trách nhiệm ở cấp bậc của ông. Theo Bùi Tín, Tướng Trần Văn Quang và ủy viên chính trị của ông, Lê Chưởng, sau này đã bị gọi về Hà Nội để khiển trách. Điều này có thể cho thấy rằng, nếu chỉ thị thảm sát không là do Hà Nội ban hành, nó vẫn có thể được ban ra từ cấp lãnh đạo quân khu Trị - Thiên - Huế, và hành động giết người vô tội này không phải là sự tự phát của một cá nhân nào.

[44] . Điều này được Lê Minh ám chỉ trong tập Hồi Ký khi ông kể lại hoàn cảnh khó tin mà lính của ông phải đương đầu trong cuộc rút lui khỏi Huế.

[45] . Trần Ngọc, “Phỏng Vấn Giáo Sư Lê Văn Hảo,” Quê Mẹ, Số 105 & 106, Paris, 1990.

[46] . Trong khi chối bỏ trách nhiệm của mình về vụ Thảm Sát tại Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường, cả trong bộ phim Vietnam, A Television History (Chương trình 13 đoạn của PBS) và khi trả lời Thụy Khuê, phóng viên Đài Phát Thanh Quốc Tế Pháp RFI, trong một cuộc phỏng vấn sau này có in trong Chuyển Luân, một tạp chí Phật Giáo phát hành tại Pháp, đã công nhận có rất nhiều người bị thảm sát tại Huế trong dịp Tết 1968. Hoàng Phủ Ngọc Tường chia nạn nhân thành 3 loại: 1/ Người bị “Quân đội Giải Phóng trừng phạt vì có tội với nhân dân,” (theo định nghĩa riêng của Cộng Sản Bắc Việt); 2/ Người vô tội bị giết oan (không nói rõ con số là bao nhiêu); 3/ Người chết vì bom đạn của Mỹ và trong giao tranh khi Quân Lực VNCH phản công. Người ta nhận ra sự ngụy biện này rất chướng tai khi nghĩ tới cái chết của 4 vị Bác Sĩ Đức (và một bà vợ) đến giúp Việt Nam tại Đại Học Y Khoa Huế, hay sự thảm sát người Công Giáo và các giáo sĩ ngoại quốc tại Phú Cam, sự cố tình giết hại người già, đàn bà, trẻ em, trong các mồ chôn tập thể.

[47] . Chỉ cần liếc sơ qua ấn phẩm Tội Ác, người ta cũng thấy hàng chục tên khác, có thể ít được biết đến, nhưng cũng góp phần vào sự kinh hoàng của đại chúng trong vụ thảm sát tại Huế. Điều khác thường là rất nhiều tên là của các nhà giáo dục nổi tiếng, từ Lê Văn Hảo đến bà Tuần Chi, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Đóa, những kẻ đáng ra phải truyền dạy tình người và lòng nhân cho học sinh sinh viên của mình.

[48] . Trận chiến tại Huế Tết Mậu Thân 1968 có lẽ là một trong những trận chiến được đưa lên thành phim tài liệu nhiều nhất trong Chiến Tranh Việt Nam. Danh sách Embassy of Vietnam 1970 – 71 Film List ấn hành năm 1971 tại Hoa Thịnh Đốn, liệt kê 5 tựa đề liên quan đến cuộc chiến này và hậu quả của nó: The Battle of Huê (Tháng 02/1968 – dài 20 phút), Huê, A City in February (February 1968, dài 13 phút), Communist Massacre in Huê (March – April 1969, dài 15 phút), Tội Ác Việt Cộng Tại Huế ( March – April 1969, dài 25 phút), và Đá Mài Valley (Tên một địa điểm nơi người ta khám phá những mồ chôn tập thể lớn nhất vào tháng 9/ 1969 – dài 20 phút). Đặc điểm của các phim này là chúng hoàn toàn có tính tài liệu lịch sử, rất ít bị sửa đổi. Vài phim cho thấy sự xâm nhập của lính Cộng Sản khi họ mới tiến vào thành, do một nhà quay phim miền Nam Việt Nam quay được trong lúc hỗn quân hỗn quan (quân Cộng Sản tưởng ông thuộc về đoàn truyền hình Bắc Việt). Ông may mắn trốn thoát và đã giữ được đoạn phim này mang đưa cho Quân Lực VNCH khi họ tái chiếm Huế. Người ta cũng phải nhắc đến tác phẩm nổi tiếng Giải Khăn Sô Cho Huế của nhà văn nữ Nhã Ca viết về Tết Mậu Thân 1968 tại Huế, tác phẩm này đoạt Giải Văn Chương Phủ Tổng Thống 1969 khi mới xuất bản. Tác phẩm Mùa Biển Động của tác giả Nguyễn Mộng Giác là một trường thiên tiểu thuyết dầy 1800 trang gồm 5 tập xây dựng chung quanh các biến động từ 1963-1975 tại miền Nam Việt Nam, một trong 5 tập này đã hầu như hoàn toàn dành riêng cho trận chiến tại Huế.